158
Sở hữu chồng chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
Tóm tắt:

Trước năm 1990, ở Việt Nam chỉ có duy nhất một loại hình ngân hàng là ngân hàng quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước, bao gồm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank). Tháng 5/1990, Pháp lệnh Ngân hàng được ban hành cho phép thành lập ngân hàng thuộc các hình thức sở hữu khác, bao gồm ngân hàng cổ phần và ngân hàng liên doanh. Sau khi có nền tảng pháp lý mới, trong năm 1991 đã có thêm 4 ngân hàng cổ phần và 1 ngân hàng liên doanh mới được thành lập. Đến năm 1993, số lượng ngân hàng cổ phần ở Việt Nam đã lên đến con số 41, tăng hơn 10 lần so với 2 năm trước đó, chưa kể có thêm 2 ngân hàng liên doanh mới và đặc biệt lần đầu tiên có sự xuất hiện của 8 chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam. Số lượng ngân hàng cổ phần liên tục tăng, đạt đỉnh 56 ngân hàng vào trước thời kỳ khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998, sau đó giảm xuống còn 37 ngân hàng vào trước thời điểm gia nhập WTO 2006. Trong giai đoạn này, khi Việt Nam vẫn chưa mở cửa cho loại hình ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng liên tiếp được thành lập.

Loại:
Nghiên cứu chính sách
Ngôn ngữ:
Tiếng Việt
Ngày:
31/12/2013
Số trang:
127
/   
/   

        FSPPM Email


Đào tạo và nghiên cứu chính sách công tại Việt Nam

105 Tôn Dật Tiên, Phường Tân Phú, Quận 7, TP.HCM. ĐT: (84-28) 7303-2255

© 1995-2018 Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright. Cam kết bảo mật  |  Cam kết về tính đa dạng  |  Chi tiết pháp lý |  Góp ý