Sự phát triển của kinh tế tư nhân: Tài năng, thức thời hay thân hữu?

02/05/2019 15:15

Nguồn: Baodautu.vn

Gần ba thập niên bừng nở

Chưa đầy ba thập niên kể từ khi được thừa nhận chính thức, thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam ngày càng trở nên lớn mạnh, khẳng định vai trò và vị thế bằng những thành quả lao động một cách đầy tự hào. Số liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy, tính đến năm 2016, các doanh nghiệp khối tư nhân tạo ra 9,76 triệu tỷ đồng về doanh thu và 188 nghìn tỷ đồng về lợi nhuận, lần lượt chiếm 56% doanh thu và 26,4% lợi nhuận của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Xét về sự đóng góp đối với nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp gần 40% GDP của nền kinh tế, sử dụng khoảng 85% lực lượng lao động, cung ứng gần 40% tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế, đóng góp gần 15% tổng thu ngân sách quốc gia, tương đương 27% cơ cấu thu ngân sách giữa ba thành phần kinh tế nhà nước, nước ngoài và tư nhân. Kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc định hình nên các chính sách phát triển đất nước, thúc đẩy các cải cách kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh và đổi mới cách thức quản lý kinh tế của Chính phủ.

Mặc dù được thừa nhận tồn tại khách quan, bình đẳng cùng với các thành phần kinh tế khác và trên thực tế Chính phủ cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ và thúc đẩy, tuy nhiên vai trò động lực của kinh tế tư nhân chưa bao giờ được thừa nhận chính thức. Đến Nghị quyết số 10-NQ/TW Hội nghị TW5 (Khóa XII) năm 2017, vai trò của kinh tế tư nhân mới được khẳng định như một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết cũng nêu rõ sự cần thiết phải xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng; kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, v.v... Mặc dù vậy hiện vẫn còn một khoảng cách rất lớn giữa quy định với thực tế và có lẽ cũng cần một giai đoạn "quá độ" để đoạn tuyệt với tư duy cũ, thay đổi nếp nghĩ, cách làm, thể chế, chính sách để kinh tế tư nhân không chỉ là động lực quan trọng mà còn là rường cột của kinh tế đất nước.

Hạt giống tốt cần môi trường thuận lợi để nảy mầm

Mặc dù có vai trò và đóng góp quan trọng nhưng quy mô và năng lực cạnh tranh của đại bộ phận doanh nghiệp tư nhân Việt Nam còn rất nhỏ và yếu. Chiếm khoảng 98% trong số hơn 700 nghìn doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động ở Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, chưa kể hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Các điều tra khảo sát của GSO cho thấy tỷ suất lợi nhuận (ROA, ROE, ROS) của khu vực kinh tế tư nhân khá thấp so với các khu vực khác. Tỷ suất sinh lợi thấp ảnh hưởng đến khả năng tự tích lũy vốn và mở rộng quy mô. Trong khi đó, hệ số nợ trung bình thấp hơn nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước cũng cho thấy khả năng tiếp cận vốn của khu vực này đang gặp không ít bất lợi. Do năng lực vốn mỏng nên tiềm lực để đầu tư công nghệ hiện đại là rất hạn chế. Điều này vô hình trung khiến cho một bộ phận rất lớn các doanh nghiệp tư nhân không có "vé" để lên chuyến tàu cách mạng công nghiệp 4.0. Trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn do cam kết mở cửa và hội nhập, các biện pháp bảo hộ dần gỡ bỏ nhưng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ lại không được lấp đầy tương ứng, khiến cho các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cảm thấy bị bỏ rơi hoặc lẻ loi trong cuộc cạnh tranh không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn với các doanh nghiệp nước ngoài.

Một tín hiệu tích cực là mặc dù đa phần các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô nhỏ nhưng hiện đang nổi lên nhiều doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn và ngày càng có tầm ảnh hưởng quan trọng đến phát triển kinh tế và định hình các cải cách và chính sách ở Việt Nam. Báo cáo Vietnam Report cuối năm 2018 đã công bố Bảng xếp hạng Top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam 2018, trong đó có rất nhiều cái tên quen thuộc như Tập đoàn Vingroup, Thế giới Di động, Vinamilk, Doji, Trường Hải, Hòa Phát, FPT, Vietjet, VP Bank, Masan, Novaland, Pomina, Việt Tiến, v.v... Tuy nhiên, nếu mở rộng bảng xếp hạng theo hướng không phân biệt loại hình sở hữu thì hầu như chỉ nhìn thấy các doanh nghiệp nhà nước hoặc/và doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các doanh nghiệp tư nhân rất ít bóng dáng. Chẳng hạn, theo VNR500, có đến 7 doanh nghiệp nhà nước hoặc nhà nước có cổ phần chi phối trong Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, 2 doanh nghiệp FDI gồm Samsung (xếp thứ 1) và Honda, trong khi chỉ có duy nhất một doanh nghiệp tư nhân đứng ở vị trí thứ 5 là Vingroup. Nếu mở rộng bảng xếp hạng lên Top 50 hay Top 100 thì sẽ xuất hiện thêm một số doanh nghiệp tư nhân như vừa kể trên nhưng sự xuất hiện thêm chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài. Điều này cho thấy mặc dù thành phần kinh tế tư nhân hiện đã có nhiều đại diện hơn trên bản đồ kinh tế Việt Nam so với những thập niên trước đây, song nếu so với hai thành phần kinh tế còn lại thì vẫn còn khiêm tốn. Bên cạnh đó, có nhiều doanh nghiệp tư nhân từng là tên tuổi đáng tự hào của của Việt Nam cũng đã chết đi mà hiện nay chúng ta không còn nghe thấy, hoặc cũng có những doanh nghiệp đang chết dần chết mòn vì lý do này hoặc lý do khác.

Tài năng, thức thời hay thân hữu?

Sự nổi lên của một số doanh nghiệp tư nhân lớn ở Việt Nam, nhìn trên một phương diện nào đó, cho thấy môi trường kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể ươm mầm, nuôi dưỡng hoặc lai tạo nên được các doanh nghiệp lớn. Rõ ràng, chỉ chưa đầy ba thập niên được thừa nhận và phát triển, sự tăng trưởng nhanh của các doanh nghiệp tư nhân lớn cho thấy nhiều vấn đề xét cả ở góc nhìn lạc quan lẫn bi quan. Để có thể đạt quy mô tài sản hoặc vốn lớn, các doanh nghiệp này phải đạt tốc độ tăng trưởng rất cao và có sự tích lũy tư bản rất nhanh chóng. Theo VNR500, tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của Top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2017 lên đến 21,8% mỗi năm, thậm chí có những doanh nghiệp đạt trên 50% hoặc cao hơn nữa. Những ngành có đóng góp lớn nhất về doanh thu trong năm 2018 trong khối doanh nghiệp tư nhân là Tài chính (chiếm 15,1%); Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá (14,3%); Xây dựng, vật liệu xây dựng, bất động sản (13,9%); Thép (11,7%); và Viễn thông, tin học, công nghệ thông tin (9,2%). Các ngành này chiếm đến 64,2% tổng doanh thu và 75,5% lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp tư nhân trong Top 500. Các hình thức mua bán và sáp nhập (M&A) cũng như vay nợ nhiều đã giúp các doanh nghiệp nhanh chóng gia tăng quy mô tài sản và chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng.

Câu hỏi đặt ra là sự tăng trưởng và mở rộng của nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn là do tài năng, thức thời hay thân hữu? Chúng ta dễ dàng nhận thấy có khá nhiều doanh nghiệp trở nên lớn mạnh hơn nhờ vào tài năng của những nhà sáng lập và nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Họ là những người xuất sắc, có kiến thức và hiểu biết tốt không chỉ về chuyên môn, về cách thức làm ăn kinh doanh, mà còn có nền tảng về kinh tế, văn hóa và xã hội. Nhiều người trong số họ là những người thức thời, biết nắm bắt thời cơ mang lại do tiến trình cải cách kinh tế và mở cửa hội nhập của Việt Nam, hoặc nắm bắt được các quy luật của cuộc sống và nhu cầu xã hội, hoặc biết tận dụng được các xu hướng và thành tựu về công nghệ và kỹ thuật của thế giới vào thực tiễn ở Việt Nam. Những doanh nghiệp trong khối này hoạt động rất chuyên nghiệp và chuẩn mực; tuân thủ tốt pháp luật, các tiêu chuẩn môi trường, văn hóa – xã hội; quan tâm đến quyền lợi của người lao động, biết làm hài lòng khách hàng, bảo vệ lợi ích của người dân và xã hội. Những sản phẩm của những doanh nghiệp này làm ra luôn dành được sự tin tưởng và ủng hộ của khách hàng. Nhờ đó doanh nghiệp luôn duy trì và mở rộng được thị phần, ngày càng khẳng định uy tín và vị thế của doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy rằng, có không ít doanh nghiệp hoạt động rất chuẩn mực và tuân thủ luật pháp tốt nhưng lại không sao phát triển được. Ngược lại, cũng có những doanh nghiệp bỗng nhiên lớn nhanh như Phù Đổng mà không thấy có tài năng hay sản phẩm gì nổi bật.

Người xưa có câu: "Kẻ thức thời là trang tuấn kiệt", tức kẻ biết thời thế là người tài giỏi. Tuy nhiên, không hẳn người nào giỏi cũng đã là kẻ thức thời. Ngược lại, cũng có những người không hề tài giỏi nhưng lại rất thức thời, hoặc có thể những người này tài giỏi theo một cách định nghĩa khác. Một số doanh nghiệp đã tận dụng các mối quan hệ với chính quyền để có được các cơ hội kinh doanh hoặc đặc quyền kinh tế, ví dụ như đất đai, tài nguyên, nguồn vốn, và nhiều cơ chế ưu đãi khác mà những doanh nghiệp bình thường không thể có được hoặc rất khó tiếp cận, nhờ đó chúng ngày càng để trở nên lớn mạnh. Người ta gọi đây là các doanh nghiệp thân hữu, một kiểu biểu hiện của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Điều nguy hiểm là các doanh nghiệp này đã tận dụng "lợi thế so sánh" của mình để giành chiến thắng mà không cần cạnh tranh, hù dọa doanh nghiệp khác, hoặc cạnh tranh không công bằng, thôn tính doanh nghiệp khác, làm vấy đục môi trường kinh doanh, suy yếu sức cạnh tranh của nền kinh tế và thậm chí tha hóa cả hệ thống chính trị.

Con đường để biến các doanh nghiệp trở nên thân hữu rất đa dạng. Các lý thuyết kinh tế chính trị học có nhiều cách giải thích cho sự hình thành của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Một trong số đó là khi tài sản của doanh nghiệp tăng lên đến một mức độ nhất định, các nhà tư sản cần một thể chế để bảo vệ cho số tài sản của họ. Họ có thể tự trang bị lực lượng để bảo vệ cho tài sản của mình, song con đường phổ quát là tìm đến chính quyền, kết thân với giới chính trị để giúp họ bảo vệ số tài sản đó. Không dừng ở việc bảo vệ tài sản, nhờ mối quan hệ "win-win", các nhà chính trị cũng sẽ ưu ái cho doanh nghiệp thân hữu các cơ hội kinh doanh và đặc quyền để đổi lấy lá phiếu hoặc lợi ích vật chất. Ở phía ngược lại, các doanh nghiệp cũng tìm cách tận dụng tối đa mối quan hệ này để bòn rút nguồn lực quốc gia như đất đai, tài nguyên, và các nguồn lực khác, đồng thời chi phối quy hoạch và chính sách của Chính phủ, làm biến dạng môi trường đầu tư kinh doanh, tạo ra tình trạng cạnh tranh không bình đẳng, kém lành mạnh ngay chính trong khu vực kinh tế tư nhân với nhau chứ không chỉ giữa khu vực kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước. Ở Việt Nam, ngoài các doanh nghiệp tư nhân thuần túy thân hữu còn các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa nhưng vẫn tiếp tục duy trì các mối liên hệ cộng sinh với khu vực nhà nước như trước khi cổ phần hóa. Chúng ta cần nghiêm túc đánh giá và soi rọi thấu đáo nguy cơ của chủ nghĩa tư bản thân hữu ở Việt Nam và rất cần sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo chính trị cấp cao để hỗ trợ làm điều đó.

Ngoài ra, không giống như sự tăng trưởng của các doanh nghiệp thân hữu, có những doanh nghiệp hoạt động không chuẩn mực, kinh doanh kiểu chộp giựt, sản xuất hoặc bán hàng kém chất lượng, hàng gian, hàng giả, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh, dùng các tiểu xảo và thủ đoạn để được lợi, vi phạm pháp luật, phá vỡ các tiêu chuẩn về môi trường, bất chấp các giá trị xã hội và văn hóa, v.v... Những doanh nghiệp này tạm thời có thể trở nên khấm khá hơn nhưng không bao giờ bền vững trong dài hạn. Theo quy luật, đến một thời điểm nào đó, những doanh nghiệp này không thể lớn hơn được nữa, chúng sẽ bị suy yếu và lụi tàn nếu không được tái cấu trúc theo các chuẩn mực kinh doanh chuẩn tắc. Đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tạo ra vết xe đổ này. Rõ ràng những doanh nghiệp tư nhân kiểu này không thể là đại diện cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, không bao giờ là động lực kinh tế hay rường cột đất nước, càng không thể là niềm tự hào hay đại diện cho hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta tự hào vì ngày nay có những lớp doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh và trưởng thành hơn nhưng chúng ta cũng cảm thấy thất vọng và xấu hổ khi chứng kiến không ít doanh nghiệp tư nhân Việt Nam kinh doanh không hề có chuẩn mực. Chúng ta có niềm tin rằng đây chỉ là thiểu số bởi xung quanh có rất nhiều lớp doanh nhân cùng với doanh nghiệp tư nhân đáng tự hào. Đó là những doanh nhân có bản lĩnh, năng lực và kỹ năng quản trị; có tinh thần tự lực, tự cường, chấp hành pháp luật, quan tâm đến người lao động, có trách nhiệm với xã hội, có văn hóa và đạo đức kinh doanh; có lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó bền vững với lợi ích của đất nước.

Diễn đàn kinh tế tư nhân lần này là dịp để chúng ta thảo luận các chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực kinh tế quan trọng của đất nước. Xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử, thiên vị giữa khu vực kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân và giữa kinh tế nước ngoài với kinh tế tư nhân trong nước là một đòi hòi hết sức bức thiết. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn vào thực trạng phân hóa trong chính khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là vấn đề tư bản thân hữu, để có những giải pháp làm sao để loại bỏ các doanh nghiệp kinh doanh không chân chính, đi lên bằng lợi dụng các kẽ hở của luật pháp, dựa vào thân hữu; tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, thực hành các chuẩn mực văn hóa kinh doanh tiến bộ. Có như vậy Việt Nam chúng ta mới có được một khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh, đầy tự hào, xứng đáng với vai trò động lực và rường cột của kinh tế nước nhà./.

Đỗ Thiên Anh Tuấn,
Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam

        FSPPM Email


Đào tạo và nghiên cứu chính sách công tại Việt Nam

105 Tôn Dật Tiên, Phường Tân Phú, Quận 7, TP.HCM. ĐT: (84-28) 7303-2255

© 1995-2018 Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright. Cam kết bảo mật  |  Cam kết về tính đa dạng  |  Chi tiết pháp lý |  Góp ý