Cập nhật tình hình Kinh tế Việt Nam – Quý I năm 2019

Ngày 12/4/2019, thầy Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, đã trình bày tình hình kinh tế Việt Nam trong Quý 1 năm 2019. Trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu suy giảm từ giữa năm 2018 và sẽ tiếp diễn trong năm 2019, tăng trưởng quý đầu của Việt Nam cũng giảm so với cùng kỳ năm ngoái.

Điểm qua một số nền kinh tế lớn trên thế giới, trong năm 2018, Hoa Kỳ có tăng trưởng tích cực nhờ cú hích tài khóa là chính sách giảm thuế của Tổng thống Donald Trump. Theo nhận định, tác động của cú hích này chỉ tồn tại ngắn hạn và vào năm 2019, kinh tế Hoa Kỳ sẽ trở lại trạng thái như cũ. Ngoài nguyên nhân chiến tranh thương mại, dự đoán tăng trưởng chậm ở Trung Quốc còn vì chính sách tiền tệ không còn tiếp tục mở rộng được như những năm trước nữa. Những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu như Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam đều được dự đoán là tăng trưởng thấp hơn năm ngoái từ 0,2 đến 0,3%.

Nhìn vào tình hình sản xuất trong nền kinh tế Việt Nam, chỉ số tăng trưởng của từng ngành công nghiệp chế biến – chế tạo cụ thể tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng về động lực tăng trưởng ở Việt Nam. Trong giai đoạn 2016 đến giữa 2018, điện thoại thông minh (ĐTTM) là lĩnh vực đóng góp tăng trưởng nổi bật. Từ cuối 2018 đến 3 tháng năm nay, khi ĐTTM giậm chân tại chỗ và lợi nhuận đã giảm thì sản xuất công nghiệp lại được hỗ trợ bởi việc đi vào hoạt động của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và sản phẩm xăng dầu tinh chế tăng lên gấp đôi trong quý 1 so với cùng kỳ năm ngoái. Cùng với xăng dầu, sản xuất thép vẫn tiếp tục tốc độ tăng rất cao. Nhờ vậy, kinh tế Việt Nam trong Quý I vẫn tăng trưởng ở mức cao so với nhiều nền kinh tế trong khu vực và tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến – chế tạo tuy có giảm nhưng vẫn ở mức trên 12%. Vấn đề quan ngại của động lực tăng trưởng này là tăng trưởng suy giảm của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu lại được bù đắp bằng việc gia tăng tăng trưởng của các ngành thay thế nhập khẩu.

Tăng trưởng toàn cầu suy giảm kéo theo sức cầu yếu đi với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu của Việt Nam cũng đã phản ánh tác động chuyển hướng dòng hàng của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 26% và sang Trung Quốc giảm 7,4%. Bản đồ xuất khẩu của Việt Nam thể hiện sự đa dạng về thị trường. Việt Nam là nền kinh tế mở hiếm hoi có quan hệ xuất nhập khẩu đa dạng và không bị phụ thuộc vào một nước láng giềng lớn như trường hợp các nước nhỏ khác.

Về tiêu dùng, sức mua trong nước vẫn cao với tiêu dùng cuối cùng tăng 7,1% và tổng mức bán lẻ hàng hóa – dịch vụ tăng 9% sau khi đã loại bỏ yếu tố lạm phát. Tốc độ này cao hơn đáng kể so với mức tăng thu nhập thực bình quân của người dân (5,9%). Diễn biến trên các thị trường tài chính và bất động sản cũng cho thấy nền kinh tế vẫn đang hưởng một lượng tiền lớn chảy vào từ bên ngoài, cả chính thức và không chính thức. Đây là nguồn động lực cho tăng tiêu dùng nội địa cũng như duy trì giá tài sản trong ngắn hạn. Đồng thời, nó cũng giúp cho việc ổn định tỷ giá. Với lộ trình giảm tỷ lệ huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn của Ngân hàng Nhà nước, thì lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dài đang được các ngân hàng thương mại tăng lên. Chỉ số giá bán lẻ trong 12 tháng qua chỉ tăng 2,7%. Lạm phát cơ bản (loại trừ giá lương thực, năng lượng và giá nhà nước quản lý), mặc dù đã tăng liên tục từ 1,3% vào T4/2018 những vẫn ở mức thấp (1,8% vào T3/2019).

Tóm lại, nền kinh tế tuy tăng trưởng giảm tốc nhưng các cân đối vĩ mô vẫn ổn định. Tăng trưởng năm 2019 có thể không được tốt như 2018 nhưng 6,8-6,9% là mức có thể đạt được trong cả năm.

            FSPPM Email


    Đào tạo và nghiên cứu chính sách công tại Việt Nam

    105 Tôn Dật Tiên, Phường Tân Phú, Quận 7, TP.HCM. ĐT: (84-28) 7303-2255

    © 1995-2019 Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright. Cam kết bảo mật  |  Cam kết về tính đa dạng  |  Chi tiết pháp lý |  Góp ý